Công nghệ mạnh phải được bảo hộ và chuyển hóa thành thương hiệu
16:18 24/09/2026
(VINEN) - Khi dư địa cạnh tranh bằng nhân công giá rẻ và chi phí sản xuất tối ưu ngày càng thu hẹp, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam buộc phải chuyển dịch chiến lược sang nền tảng công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo (ĐMST) và giá trị thương hiệu. Đây được xem là con số quyết định giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực nội tại, gia tăng biên lợi nhuận và khẳng định vị thế trên bản đồ kinh tế toàn cầu.

Toàn cảnh Diễn đàn "Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh"
Nhằm tháo gỡ bài toán quản trị và định vị thương hiệu cho doanh nghiệp Việt trong kỷ nguyên bùng nổ công nghệ, Diễn đàn "Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh" đã diễn ra tại Hà Nội vào ngày 23/9. Sự kiện mở ra không gian đối thoại chuyên sâu giữa các chuyên gia, nhà quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp về chiến lược khai thác bản sắc địa phương, tạo dựng thương hiệu điểm đến và nâng cao sức cạnh tranh quốc tế.
Niềm tin - Giá trị cốt lõi của thương hiệu trong nền kinh tế hiện đại
Phát biểu khai mạc diễn đàn, TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh nhận định: Thương hiệu được vận hành ở nhiều cấp độ, từ sản phẩm, doanh nghiệp, địa phương cho đến cấp quốc gia. Dù ở bất kỳ cấp độ nào, "niềm tin" vẫn là yếu tố mang tính quyết định.
TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh phát biểu tại diễn đàn. Ảnh: Trang Nhung
Về mặt kinh tế, một thương hiệu uy tín giúp doanh nghiệp thu về biên lợi nhuận cao hơn khi người tiêu dùng chấp nhận trả mức giá tối ưu. Ở tầm vĩ mô, thương hiệu mạnh là thỏi nam châm thu hút các nguồn lực chiến lược về nhân sự, vốn, công nghệ và tri thức. Đáng chú ý, thương hiệu còn giúp tối ưu hóa chi phí giao dịch nhờ cắt giảm đáng kể thời gian, công sức tìm kiếm và kiểm chứng thông tin của khách hàng.
Đánh giá về Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam, TS. Võ Trí Thành cho rằng đây không đơn thuần là hoạt động vinh danh, mà phải là bộ phận hữu cơ trong tổng thể chính sách phát triển kinh tế đất nước. "Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để khẳng định giá trị với thế giới. Những giá trị ấy cần được thể hiện một cách chân thực, cô đọng và có sức nặng thay vì hoa mỹ" - TS. Võ Trí Thành nhấn mạnh.
Từ gia công giá rẻ đến chủ động quản trị chuỗi giá trị
Chia sẻ từ góc độ thực chiến của doanh nghiệp sản xuất, ông Lê Tùng - Giám đốc Chiến lược Tập đoàn Sunhouse khẳng định: Lợi thế cạnh tranh về chi phí của Việt Nam đang giảm dần. Nếu chỉ dừng lại ở khâu gia công sản xuất thuần túy, doanh nghiệp sẽ phải chấp nhận phần giá trị gia tăng rất mỏng.

Sunhouse chia sẻ về kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh tại diễn đàn. Ảnh: Trang Nhung
Muốn nâng tầm vị thế khi bước ra biển lớn, doanh nghiệp buộc phải tham gia sâu vào các khâu có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi cung ứng, bao gồm Nghiên cứu & Phát triển (R&D), thiết kế, quản trị thương hiệu và hệ thống phân phối.
Tập đoàn Sunhouse hiện triển khai mô hình kết hợp linh hoạt: Tại thị trường nội địa, doanh nghiệp chủ động kiểm soát trọn vẹn chuỗi giá trị từ nguyên liệu, sản xuất đến phân phối; khi vươn ra thị trường quốc tế như Mỹ và các nước lân cận, Sunhouse vừa phát triển thương hiệu riêng, vừa duy trì sản xuất OEM cho các tập đoàn toàn cầu để học hỏi và nâng cao năng lực R&D.
Ông Tùng dẫn chứng: Nhờ sức ép khắt khe từ thị trường Mỹ, chi phí sản xuất một dòng sản phẩm của đơn vị đã giảm từ 50 USD xuống 25 USD sau 5 năm nhờ liên tục cải tiến quy trình. "Cạnh tranh quốc tế không chỉ là câu chuyện bán hàng, mà là hành trình bắt buộc doanh nghiệp phải học hỏi, cải tiến và tự nâng cấp chính mình" - ông Tùng đúc kết.
Biến năng lực công nghệ và ĐMST thành giá trị thương hiệu
Ở góc độ quản lý nhà nước về tài sản trí tuệ, TS. Trần Lê Hồng - Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã phân tích sâu sắc chuỗi chuyển hóa giữa ĐMST, năng lực công nghệ, giá trị thương hiệu và lợi thế cạnh tranh quốc gia.
TS. Trần Lê Hồng chia sẻ về mối quan hệ giữa đổi mới sáng tạo, công nghệ và giá trị thương hiệu. Ảnh: Trang Nhung
Theo TS. Trần Lê Hồng, 4 yếu tố này tạo thành một hệ thống liên hoàn có mối quan hệ nhân quả chặt chẽ. ĐMST là quá trình tích lũy năng lực công nghệ nội tại cho doanh nghiệp. Việc nghiên cứu đứt quãng hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào bên ngoài sẽ không thể tạo ra năng lực cốt lõi. Năng lực công nghệ tạo ra chất lượng ổn định - chính là "nguyên liệu thô" của thương hiệu. Tuy nhiên, nếu không được truyền thông hiệu quả và bảo hộ pháp lý, doanh nghiệp dù giỏi công nghệ vẫn mãi là nhà cung cấp ẩn danh.
TS. Trần Lê Hồng đặc biệt cảnh báo thực trạng "công nghệ mạnh - thương hiệu yếu", lý giải vì sao một nền kinh tế có thể xuất khẩu hàng trăm tỷ USD sản phẩm công nghệ cao nhưng thu nhập bình quân đầu người vẫn ở mức trung bình do giá trị tạo ra không được giữ lại. Mặt khác, thương hiệu mạnh cũng không thể khỏa lấp sự thiếu hụt về năng lực công nghệ.
Hiện nay, Việt Nam đang đối mặt với 3 thách thức lớn:
Thứ hạng ĐMST tương đối cao nhưng tỷ lệ đầu tư cho R&D còn thấp.
Quy mô xuất khẩu công nghệ cao lớn nhưng giá trị gia tăng giữ lại trong nước còn mỏng.
Tốc độ tăng trưởng giá trị thương hiệu quốc gia nhanh hơn tốc độ phát triển thương hiệu của từng doanh nghiệp cụ thể.
Dẫn chứng từ báo cáo quốc tế, Bảng xếp hạng Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2025 và Bảng xếp hạng Giá trị Thương hiệu Quốc gia 2025 của Brand Finance thể hiện sự trùng khớp rõ rệt: Các quốc gia đứng đầu về ĐMST (như Thụy Sĩ, Mỹ, Trung Quốc, Đức, Thụy Điển, Hàn Quốc, Singapore...) cũng chính là những nền kinh tế dẫn đầu về giá trị thương hiệu quốc gia (Hoa Kỳ đạt 37,3 nghìn tỷ USD; Trung Quốc, Đức, Anh giữ các vị trí tiếp theo).
Quyết sách cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Việt Nam
Để ĐMST thực sự trở thành động lực tăng trưởng và nâng cao giá trị thương hiệu Việt, TS. Trần Lê Hồng đề xuất các giải pháp mang tính chiến lược:
Tái cấu trúc nguồn vốn: Đưa mục tiêu chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt 2% GDP vào đúng cấu trúc nguồn vốn đầu tư.
Chuyển dịch dòng vốn FDI: Chuyển trọng tâm ưu đãi đầu tư nước ngoài từ "thu hút diện rộng" sang "tăng cường liên kết và chuyển giao công nghệ thực chất".
Nâng cao năng lực hấp thụ: Đẩy mạnh phát triển năng lực làm chủ công nghệ của doanh nghiệp nội địa trước khi kỳ vọng vào các đột phá lớn.
Coi Sở hữu trí tuệ là hạ tầng kinh tế: Thay đổi tư duy xem hệ thống sở hữu trí tuệ là thủ tục hành chính sang hạ tầng kinh tế then chốt; phát triển các chỉ dẫn địa lý và thương hiệu tập thể cho nông sản Việt.
Bảo đảm tính liên tục của chính sách: Duy trì sự ổn định và nhất quán trong các định hướng hỗ trợ ĐMST để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.
Sự chuyển dịch từ cạnh tranh bằng chi phí sang cạnh tranh dựa trên ĐMST và giá trị thương hiệu không còn là sự lựa chọn, mà là con đường bắt buộc để cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam vượt qua thách thức, tự tin hội nhập và phát triển bền vững.
Hoàng Tâm






