“Đầu tư cùng Việt Nam”: Từ điểm đến của dòng vốn FDI đến đối tác đồng kiến tạo giá trị toàn cầu
20:26 29/10/2026
Sáng ngày 28/10, tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã đưa ra thông điệp chiến lược: Chuyển từ “đầu tư tại Việt Nam” sang “đầu tư cùng Việt Nam”. Đây không đơn thuần là một lời mời gọi vốn, mà là bước ngoặt đánh dấu vị thế mới của nền kinh tế Việt Nam từ điểm đến thụ động của dòng vốn FDI trở thành đối tác bình đẳng, đồng kiến tạo giá trị và chia sẻ thịnh vượng toàn cầu.

PV: Thưa ông, sáng ngày 28/10, tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 ở TP. Hồ Chí Minh, trong phiên đối thoại với ông Stephan Mergenthaler, Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới - WEF, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam đang đẩy mạnh đổi mới nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Việt Nam mong muốn cộng đồng quốc tế không chỉ nhìn thấy nhu cầu thu hút đầu tư, mở rộng thị trường mà còn nhận diện cơ hội hợp tác lâu dài, cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia những chuỗi giá trị mới.
“Với tinh thần chuyển từ ‘đầu tư tại Việt Nam’ sang ‘đầu tư cùng Việt Nam’, chúng tôi mong muốn các doanh nghiệp, nhà đầu tư quốc tế tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước, các viện nghiên cứu và trường đại học, phát triển công nghệ, nguồn nhân lực và mạng lưới nhà cung ứng”, Thủ tướng nhấn mạnh.
Từ góc nhìn của cộng đồng doanh nghiệp, ông đánh giá như thế nào về thông điệp này và ý nghĩa đối với việc tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam với các nhà đầu tư quốc tế?

Ông Abraham Nguyễn Quang Huy - Phó Chủ tịch Hiệp hội Khởi nghiệp Quốc gia, Chủ tịch Diễn đàn GIFPP - VNFDI:
Việt Nam không chỉ cần thêm nhà máy, dây chuyền sản xuất hay nguồn vốn tài chính. Điều Việt Nam cần trong giai đoạn mới là các trung tâm nghiên cứu và phát triển, phòng thí nghiệm chung, chương trình đào tạo kỹ sư và chuyên gia, hệ thống sở hữu trí tuệ, các nền tảng số và những công nghệ có khả năng tạo ra năng suất mới.
“Đầu tư cùng Việt Nam” có nghĩa là doanh nghiệp quốc tế không chỉ đưa sản phẩm vào Việt Nam hoặc tổ chức sản xuất tại Việt Nam, mà cùng các doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học Việt Nam phát triển công nghệ, đào tạo nhân lực, xây dựng tài sản trí tuệ và tạo ra những sản phẩm mang giá trị toàn cầu.
Khi đó, Việt Nam không chỉ tham gia vào chuỗi giá trị, mà từng bước có năng lực đồng thiết kế, đồng sở hữu và đồng dẫn dắt những chuỗi giá trị mới.
Thứ hai, chuyển từ liên kết đơn thuần sang nâng cao năng lực nội sinh của doanh nghiệp Việt Nam.
Một nền kinh tế không thể thực sự mạnh nếu khu vực đầu tư nước ngoài phát triển nhanh nhưng doanh nghiệp trong nước vẫn đứng ở “vành đai ngoài” của chuỗi cung ứng.
Vì vậy, giá trị lớn nhất của thông điệp này là tạo động lực để các tập đoàn quốc tế tăng cường đặt hàng, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ quản trị, chuẩn hóa sản xuất và mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2; tiến tới trở thành đối tác nghiên cứu, đối tác đổi mới sáng tạo và đối tác chiến lược.
Đặc biệt, các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam cần được xem là một nguồn năng lực mới của nền kinh tế, chứ không chỉ là nhóm doanh nghiệp nhỏ đang tìm kiếm vốn. Đây là lực lượng có khả năng thử nghiệm nhanh, làm chủ công nghệ mới và giải quyết những bài toán mà các mô hình truyền thống chưa xử lý hiệu quả.
Tuy nhiên, liên kết không thể chỉ đến từ yêu cầu đối với khu vực FDI. Doanh nghiệp Việt Nam cũng phải chủ động nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, chất lượng quản trị, tiêu chuẩn sản phẩm, tính minh bạch, năng lực số, trách nhiệm môi trường - xã hội và khả năng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Muốn đi cùng các tập đoàn toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam phải chuẩn bị năng lực để trở thành một đối tác đáng tin cậy, có tiêu chuẩn và có khả năng cùng tạo ra giá trị.
Thứ ba, chuyển từ ưu đãi đầu tư ngắn hạn sang cam kết đồng hành dài hạn.
Trong môi trường cạnh tranh toàn cầu hiện nay, ưu đãi về thuế, đất đai hay chi phí lao động không còn là yếu tố duy nhất quyết định chất lượng của một điểm đến đầu tư.
Nhà đầu tư chiến lược quan tâm nhiều hơn đến sự ổn định của thể chế, chất lượng nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo, mức độ sẵn sàng của hệ sinh thái cung ứng và khả năng đồng hành của chính quyền.
Do đó, “đầu tư cùng Việt Nam” phải được cụ thể hóa bằng một hệ sinh thái hợp tác dài hạn giữa Nhà nước - nhà đầu tư - doanh nghiệp - trường đại học - viện nghiên cứu - quỹ đầu tư - tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo.
Liên kết này cần được tổ chức theo từng ngành, từng địa phương và từng chuỗi giá trị cụ thể; có mục tiêu, lộ trình, chỉ số đo lường và cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch. Chúng ta cần chuyển từ xúc tiến đầu tư theo từng dự án riêng lẻ sang kiến tạo những hệ sinh thái đầu tư có khả năng phát triển trong 10 năm, 20 năm và lâu hơn nữa.
Để thông điệp của Thủ tướng nhanh chóng đi vào thực tiễn, tôi cho rằng cần ưu tiên bốn nhóm giải pháp.
Một là, xây dựng các chương trình phát triển nhà cung ứng Việt Nam gắn trực tiếp với nhu cầu của từng tập đoàn FDI, giúp doanh nghiệp trong nước biết rõ mình cần đạt tiêu chuẩn gì và được hỗ trợ như thế nào để tham gia chuỗi cung ứng.
Hai là, hình thành các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm và quỹ đổi mới sáng tạo đồng tài trợ giữa Nhà nước, doanh nghiệp Việt Nam và nhà đầu tư quốc tế, tập trung vào những lĩnh vực Việt Nam có tiềm năng bứt phá như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, y tế, năng lượng mới, công nghệ xanh và logistics thông minh.
Ba là, xây dựng cơ chế đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp; kết nối trường đại học, viện nghiên cứu với nhu cầu nhân lực và công nghệ thực tế của thị trường, để hoạt động đào tạo không tách rời hoạt động sản xuất và đổi mới sáng tạo.
Bốn là, phát triển hạ tầng dữ liệu và các nền tảng kết nối đầu tư số, giúp nhà đầu tư quốc tế tìm thấy đúng địa phương, đúng dự án, đúng doanh nghiệp, đúng chuyên gia và đúng đối tác công nghệ; đồng thời giúp cơ quan quản lý theo dõi hiệu quả chuyển giao công nghệ, nội địa hóa và phát triển nhà cung ứng sau đầu tư.
Từ góc nhìn của VNFDI - FDI Today, chúng tôi cho rằng cần tiến tới xây dựng một hạ tầng kinh tế FDI số, kết nối dữ liệu về cơ hội đầu tư, địa phương, khu công nghiệp, doanh nghiệp, chuyên gia, trường đại học, viện nghiên cứu và chuỗi cung ứng. Hạ tầng này không chỉ phục vụ xúc tiến đầu tư, mà còn hỗ trợ đối sánh đối tác, hậu kiểm cam kết, chăm sóc nhà đầu tư và đo lường giá trị mà mỗi dự án đóng góp cho năng lực nội sinh của nền kinh tế.
Thông điệp của Thủ tướng cũng đặt ra một chuẩn mực mới: chất lượng của một dự án FDI không chỉ được đo bằng tổng vốn đăng ký hay số việc làm được tạo ra, mà phải được đánh giá bằng mức độ chuyển giao tri thức, tỷ lệ doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng, số lượng nhân lực được đào tạo, tài sản trí tuệ được hình thành và giá trị gia tăng được giữ lại tại Việt Nam.
Có thể nói, Việt Nam hôm nay không chỉ mời gọi thế giới đến đầu tư. Việt Nam đang mời gọi thế giới cùng xây dựng tương lai với Việt Nam.
Đó là sự chuyển dịch từ một điểm đến đầu tư sang một đối tác phát triển; từ công xưởng sản xuất sang trung tâm đổi mới sáng tạo; từ tham gia chuỗi giá trị sang cùng kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Và tôi tin rằng, khi doanh nghiệp quốc tế mang đến Việt Nam nguồn vốn, công nghệ, quản trị và mạng lưới toàn cầu; còn Việt Nam đóng góp nhân lực, trí tuệ, thị trường, năng lực đổi mới và khát vọng vươn lên, hai bên sẽ không chỉ tạo ra lợi nhuận, mà còn kiến tạo một mô hình hợp tác đầu tư vì hoà bình và thịnh vượng chung bền vững.
“Đầu tư tại Việt Nam” tạo ra một dự án.
“Đầu tư cùng Việt Nam” kiến tạo một tương lai phát triển bền vững.
Nếu “Đầu tư tại Việt Nam” dừng lại ở những dự án riêng lẻ, thì “Đầu tư cùng Việt Nam” chính là lời giải cho một hệ sinh thái phát triển bền vững. Đã đến lúc cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt là lực lượng khởi nghiệp sáng tạo chủ động nâng tầm năng lực nội sinh, bắt nhịp cùng các tập đoàn toàn cầu để không chỉ tham gia, mà còn đồng dẫn dắt những chuỗi giá trị mới trong tương lai.
PV






